Chi tiết tin

A+ | A | A-

Những điểm mới, cốt lõi của Quy định số 21-QĐ/TW ngày 11/4/2026 về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng

Người đăng: Đăng Việt Ngày đăng: 17:27 | 28/04/2026 Lượt xem: 934

Những điểm mới, cốt lõi của Quy định số 21-QĐ/TW ngày 11/4/2026 về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng

Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã chỉ rõ phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng; đổi mới mạnh mẽ tư duy, phương pháp công tác kiểm tra, giám sát, gắn kiểm tra, giám sát với các phương thức kiểm soát quyền lực khác; kiểm tra, giám sát là phương thức lãnh đạo chủ yếu, rất quan trọng để góp phần giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng. Chuyển trọng tâm sang giám sát thường xuyên; chủ động ngay từ đầu, xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quyết định của cấp ủy các cấp; bảo đảm mọi chủ trương, đường lối của Đảng được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả…

Hội nghị lần thứ hai, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã quyết nghị thông qua 02 văn bản có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc “định vị” vị trí của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, đó là: (1) Nghị quyết về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng (thay thế Nghị quyết Trung ương 5 khóa X). (2) Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng (thay thế Quy định số 296-QĐ/TW, ngày 30/5/2025). Hai văn bản này chính là “hành lang pháp lý”, “nền móng vận hành” công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng cho cả nhiệm kỳ Đại hội XIV và giai đoạn mới; thể hiện bước phát triển mới về tư duy lý luận và tổng kết thực tiễn của Đảng ta trong công tác kiểm tra, giám sát, đáp ứng yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong bối cảnh đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen.

Để thực hiện tốt các nhiệm vụ đặt ra và đảm bảo nguyên tắc “ở đâu có hoạt động của tổ chức đảng, đảng viên thì ở đó phải được kiểm tra, giám sát”, không để bỏ trống, bỏ lọt các địa bàn, lĩnh vực; không để “khoảng trống”, “vùng tối” mà công tác kiểm tra, giám sát của Đảng không vươn tới được; tổ chức bộ máy của cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp phải phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Do vậy, việc rà soát, sửa đổi để cập nhật, bổ sung những quan điểm, nội dung, quy định mới và thay thế Quy định số 296-QĐ/TW ngày 30/5/2025 là rất cần thiết. Sau đây là những điểm mới, cốt lõi của Quy định số 21-QĐ/TW trên cơ sở kế thừa Quy định số 296-QĐ/TW.

 Quy định mới gồm 07 Chương, 35 Điều, bổ sung, lược bỏ một số nội dung không còn phù hợp, đảm bảo đồng bộ, thống nhất với Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các quy định mới của Trung ương, pháp luật của Nhà nước với 05 điểm chính như sau:

Một là, bổ sung, quy định rõ trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng trong việc “Ban hành quy chế phối hợp giữa ủy ban kiểm tra với các cơ quan công an, quân đội, thanh tra, kiểm toán, viện kiểm sát, tòa án nhân dân cùng cấp và các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị khác có liên quan” để tạo điều kiện thuận lợi cho ủy ban kiểm tra khi phối hợp thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát.

Hai là, bổ sung nguyên tắc tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của ủy ban kiểm tra các cấp:

(1) Khi cần bổ sung ủy viên ủy ban kiểm tra, phó chủ nhiệm còn thiếu so với đề án nhân sự được phê duyệt thì ban thường vụ cấp ủy thực hiện quy trình giới thiệu nhân sự và báo cáo ban thường vụ cấp ủy cấp trên, không phải xin chủ trương. Khi thay đổi chủ nhiệm ủy ban kiểm tra thì phải trao đổi với ủy ban kiểm tra cấp trên để báo cáo ban thường vụ cấp ủy xem xét, quyết định, trước khi giới thiệu để bầu bổ sung chủ nhiệm; Quy định mới này để đồng bộ và phù hợp với Quy định số 377-QĐ/TW, ngày 10/8/2025 của Bộ Chính trị và tạo điều kiện thuận lợi cho cấp ủy kịp thời bổ sung nhân sự thành viên ủy ban kiểm tra khi khuyết, thiếu so với đề án nhân sự được phê duyệt.

(2) Được quyền kết nối cơ sở dữ liệu của các cơ quan Nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, đăng ký tài sản, đất đai, thuế, thanh tra, kiểm toán, truy tố, xét xử, thi hành án và các cơ sở dữ liệu khác; việc truy cập, sử dụng cơ sở dữ liệu thực hiện theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Khi tiến hành công tác kiểm tra, giám sát được sử dụng một số biện pháp: ghi âm, ghi hình; niêm phong hồ sơ, tài liệu; yêu cầu cơ quan chức năng phong tỏa tài khoản, kê biên tài sản, tạm hoãn xuất cảnh và các biện pháp khác theo quy định của pháp luật. Quy định mới này để "thể chế hóa" một trong những nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, đó là "Chuyển đổi số toàn diện, thực chất, hiệu quả; từng bước ứng dụng công nghệ thông tin để quản lý, khai thác dữ liệu, liên thông thông tin giữa cơ quan ủy ban kiểm tra và các cơ quan có liên quan; kiểm tra, giám sát trên dữ liệu"; phục vụ mục tiêu ngăn chặn, phòng ngừa vi phạm từ sớm, từ xa. Về biện pháp mới áp dụng như ghi âm, ghi hình (ví dụ như quy định về người thực hiện, biện pháp, thiết bị ghi âm, ghi hình…) sẽ được quy định chi tiết trong Hướng dẫn thực hiện Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.

(3) Trong quá trình kiểm tra, giám sát nếu phát hiện tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị hoặc cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự thì báo cáo, xin ý kiến cấp có thẩm quyền và chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan cho cơ quan điều tra để thụ lý, xử lý theo quy định của pháp luật.

Ba là, phân cấp, tăng thẩm quyền của cấp ủy tỉnh, thành và đảng ủy trực thuộc Trung ương, Ủy ban Kiểm tra Trung ương trong việc thi hành kỷ luật đảng viên vi phạm:

(1) Cấp ủy tỉnh, thành và đảng ủy trực thuộc Trung ương quyết định khiển trách, cảnh cáo ủy viên ban thường vụ cấp ủy (đương chức và nghỉ hưu), cách chức cấp ủy viên cùng cấp (đương chức và nghỉ hưu), đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên, nhiệm vụ do cấp ủy giao;

(2) Ủy ban Kiểm tra Trung ương quyết định khiển trách, cảnh cáo, cách chức cấp ủy viên tỉnh ủy, thành ủy và đảng ủy trực thuộc Trung ương (kể cả bí thư, phó bí thư, ủy viên ban thường vụ đương chức và nghỉ hưu), đảng viên là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý nhưng không phải là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ngoài ra, Quy định mới quy định rõ hơn về thẩm quyền thi hành kỷ luật đảng viên vi phạm của ban thường vụ, đảng ủy cấp trên trực tiếp cơ sở và ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương.

Bốn là, bổ sung nguyên tắc, nội dung giải quyết tố cáo phù hợp với tình hình thực tiễn:

(1) Trường hợp người tố cáo được mời (02 lần) nhưng không đến làm việc mà không có lý do chính đáng thì tổ chức đảng có thẩm quyền giải quyết tố cáo lập biên bản, không xem xét, giải quyết tố cáo, lưu hồ sơ kết thúc.

(2) Không giải quyết đơn tố cáo đang được cấp có thẩm quyền giải quyết. Mục đích để tránh trường hợp cấp có thẩm quyền đang giải quyết tố cáo theo quy định, người tố cáo vẫn gửi đơn tố cáo đến các tổ chức, cơ quan, đơn vị khác.

(3) Kết luận giải quyết tố cáo phải nêu rõ đối với từng nội dung tố cáo: tố cáo sai; tố cáo không có cơ sở, không đủ căn cứ kết luận; tố cáo đúng có khuyết điểm; tố cáo đúng có vi phạm. Đây là cơ sở để xây dựng kế hoạch kiểm điểm rút kinh nghiệm, kiểm điểm xem xét trách nhiệm hoặc giao tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị có liên quan tiếp tục xem xét, kiểm tra, làm rõ nếu những nội dung tố cáo chưa đủ căn cứ kết luận.

Năm là, để đẩy mạnh việc phân cấp và tăng thẩm quyền cho cơ sở, đồng thời gắn trách nhiệm của tổ chức đảng khi quyết định kỷ luật hoặc giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng, Quy định mới đã giao thẩm quyền như sau:

(1) Ban thường vụ cấp ủy cấp trên trực tiếp cơ sở là cấp giải quyết khiếu nại cuối cùng đối với hình thức kỷ luật khiển trách, cảnh cáo tổ chức đảng, đảng viên do ban thường vụ cấp ủy cơ sở giải quyết.

(2) Ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành ủy và đảng ủy trực thuộc Trung ương là cấp giải quyết khiếu nại cuối cùng đối với hình thức kỷ luật khiển trách, cảnh cáo tổ chức đảng, đảng viên do ban thường vụ cấp ủy cấp trên trực tiếp cơ sở giải quyết.

(3) Ủy ban Kiểm tra Trung ương là cấp giải quyết khiếu nại cuối cùng đối với hình thức kỷ luật cách chức đảng viên; khiển trách, cảnh cáo do ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành ủy và đảng ủy trực thuộc Trung ương quyết định.

(4) Ban Bí thư là cấp giải quyết khiếu nại cuối cùng đối với hình thức kỷ luật khai trừ đảng viên do ban thường vụ cấp ủy tỉnh, thành ủy và đảng ủy trực thuộc Trung ương giải quyết; khiển trách, cảnh cáo tổ chức đảng do cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương trở xuống quyết định.

(5) Bộ Chính trị là cấp giải quyết khiếu nại cuối cùng đối với hình thức kỷ luật khai trừ đảng viên do Ủy ban Kiểm tra Trung ương quyết định.

(6) Ban Chấp hành Trung ương Đảng là cấp giải quyết khiếu nại cuối cùng đối với các hình thức kỷ luật do Ban Bí thư, Bộ Chính trị quyết định.

Việc ban hành rà soát, sửa đổi để cập nhật, bổ sung Quy định mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ hoàn thiện “hành lang pháp lý” mà còn tạo bước chuyển căn bản về tư duy, phương thức và công cụ kiểm soát quyền lực trong Đảng; khẳng định rõ kiểm tra, giám sát là cơ chế để Đảng tự chỉnh đốn, tự hoàn thiện, đồng thời là giải pháp trọng yếu nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm từ sớm, từ xa; góp phần giữ vững kỷ luật, kỷ cương, củng cố niềm tin của Nhân dân./.

Tác giả: Ngọc Linh

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn:

Thăm dò ý kiến

Bạn cảm thấy website của chúng tôi như thế nào ?

Thống kê truy cập

Tổng số lượt truy cập

00006691541